Tiểu sử của tân Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính

Tại Quốc hội khóa XIV ngày 05/04/2021, Quốc hội đã bỏ phiếu kín và thông qua nghị quyết bầu Thủ tướng. Dưới sự điều hành của Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch quốc hội Vương Đình Huệ, Quốc hội đã thông qua việc bầu tân Thủ tướng Chính phủ với 462/466 đại biểu tán thành bầu cho đồng chí Phạm Minh Chính ( chiếm trên 96% tổng số đại biểu Quốc hội) .

Ông Phạm Minh Chính
Tân thủ tướng Phạm Minh Chính

Thủ tướng Phạm Minh Chính là ai ? 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sinh ngày 10/12/1958, quê quán: xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa; ngày vào Đảng 25/12/1986 - Ngày chính thức: 25/12/1987

Trình độ được đào tạo: Giáo dục phổ thông: 10/10; Chuyên môn nghiệp vụ: Kỹ sư xây dựng dân dụng và công nghiệp, chuyên ngành Kết cấu thép; Luật; Học hàm, học vị: Tiến sĩ Luật học, Phó

Giáo sư ngành Khoa học An ninh.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Ngoại ngữ: Tiếng Rumani.

Khen thưởng: 01 Huân chương Quân công hạng Ba; 02 Huân chương Chiến công hạng Hai; 01 Huân chương Lao động hạng Nhì; 01 Huy chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất; 01 Bằng khen

Thủ tướng Chính phủ.

Chức vụ: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, XII, XIII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII; Bí thư Trung ương Đảng khóa XII; Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Tiểu ban bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương khóa XII; Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 05/4/2021); Đại biểu Quốc hội khóa XIV; Chủ tịch Nhóm nghị sỹ hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản của Quốc hội khóa XIV.

Phạm Minh Chính phát biểu
Phạm Minh Chính phát biểu trước khi tuyên thệ nhậm chức

Xuất thân và giáo dục của Thủ tướng Phạm Minh Chính

Phạm Minh Chính Sinh năm 1958 tại xóm Hoa Trường, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, ông sinh ra trong một gia đình có tám anh chị em. Cha ông là cán bộ công nhân viên chức của địa phương còn mẹ thì làm ruộng. Năm 1963 ông theo gia đình về vùng kinh tế mới tại thị trấn Phong Sơn tỉnh Thanh Hoá. Lúc nhỏ ông học tại các trường ở tỉnh Thanh Hoá.

Năm 1875, sau khi tốt nghiệp Trung học, ông theo học dự bị ngoại ngữ tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và đến năm 1976 ông được trở thành lưu học sinh tại Bucharest, Romania. Ông học tướng Romania và theo học chuyên ngành xây dựng tại đại học xây dựng Bucuresti đến năm 1984 thì ông tốt nghiệp Kỹ sư xây dựng. Năm 2000, ông bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật thành công và trở thành tiến sĩ Luật. Đến năm 2010, ông được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước phong học hàm Phó giáo sư chuyên ngành Luật.

Phạm Minh Chính được kết nạp vào Đảng ngày 25 tháng 12 năm 1986 và trở thành Đảng viên chính thức vào ngày 25 tháng 12 năm 1987. Trong quá trình hoạt động trong Đảng và Nhà nước, ông đã theo học các lý luận chính trị tại học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và nhận được bằng cao cấp.

Phạm Minh Chính nhận hoa
Thủ tướng Phạm Minh Chính nhận hoa của chủ tịch Quốc hội Dương Đình Huệ

Con đường sự nghiệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính

Sự nghiệp Công an nhân dân Thời kỳ năm 1984. Phạm Minh Chính tốt nghiệp đại học ở Romania, trở về nước và bắt đầu sự nghiệp của mình. Ông được phân công làm nghiên cứu viên Khoa học của Bộ Nội vụ tại cục Nghiên cứu Khoa học, Kinh tế và Kỹ thuật. Đến năm 1989, ông được chuyển công tác sang Bộ Ngoại giao và làm Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán nước Việt Nam tại Romania. Đây là lúc Xã hội chủ nghĩa ở Romania và các nước Đông  u sụp đổ.

Đến năm 1996, ông được điều trở lại Việt Nam và công tác tại Bộ Nội vụ, sau chuyển thể thành Bộ Công an năm 1998. Ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ cao cấp như Thư ký Tổng hợp Văn phòng Bộ Công an, phó Cục trưởng phụ trách Cục rồi lên đến Cục trưởng cục Tình báo Kinh tế và Khoa học Bộ Công an. Năm 2006, ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Công an. Những năm này ông kiêm nhiệm vị trí Chuyên viên Cấp cao văn phòng Chính phủ, kiêm giảng viên đại học, giảng dạy tại các trường công an như học Viện An ninh.

Tháng 4 năm 2007, đồng chí Phạm Minh Chính được Thủ tướng phong quân hàm Thiếu tướng Công an nhân dân. Đến tháng 12 năm 2009, ông được Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng An giao nhiệm vụ phụ trách Tổng cục Hậu cần - kỹ thuật bộ Công an. Đến tháng 2 năm 2010, Thủ tướng quyết định bổ nhiệm ông giữ chức Tổng cục trưởng cục Hậu cần - kỹ thuật bộ Công an. Đến tháng 7, ông được Thủ tướng quyết định thăng cấp từ Thiếu tướng lên Trung tướng Công an nhân dân Việt Nam. Đến tháng 8 ông được Thủ tướng bổ nhiệm chức Thứ trưởng bộ Công an.

Ngày 18 tháng 01 năm 2011, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, Phạm Minh Chính được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI nhiệm kỳ 2011 – 2016. Ngày 8 tháng 8 năm 2011, ông được Bộ Chính trị điều chuyển về công tác ở tỉnh Quảng Ninh, miễn nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam, tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, bổ nhiệm làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ninh, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh Quảng Ninh, kế nhiệm Vũ Đức Đam. Ông lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh những năm 2011 – 2015, mục tiêu phát triển kinh tế tỉnh vùng biển. Trong giai đoạn này, ông là người tiên phong đề ra định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ nâu sang xanh của tỉnh Quảng Ninh. Định hướng này được xem là đã mang lại nhiều thành công trong chiến lược phát triển, góp phần giúp Quảng Ninh thay đổi diện mạo nhanh chóng, đặc biệt đã làm giảm mạnh tình trạng ô nhiễm môi trường do khai thác than.

Phạm Minh Chính trúng cử Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kỳ 2016 – 2021 từ tỉnh Quảng Ninh vào ngày 22 tháng 05 năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 01 tỉnh Quảng Ninh gồm thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả, được 321.908 phiếu, đạt tỷ lệ 91,64% số phiếu hợp lệ. Ông lần đầu được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam giới thiệu ứng cử và đã trúng cử, thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh.

Phạm Minh Chính tuyên thệ
Phạm Minh Chính tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng

Hoạt động Chính trị tại trung ương Đảng

Tháng 4 năm 2015, đồng chí Phạm Minh Chính được điều về Trung ương công tác, giữ chức vụ Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Tháng 1 năm 2016, tại Đại hội đại Đảng lần thứ XII, ông được tín nhiệm bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Ngày 27 tháng 1 năm 2016, ông được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị khoá XII. Tháng 2 năm 2016 ông được phân công tham gia Ban bí thư Trung ương Đảng. Ông giữ chức Trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phạm Minh Chính còn là Uỷ Viên Ban chỉ đạo Trung ương Đảng phòng, chống tham nhũng của Đảng khoá XII. Tháng 1 năm 2018, Thủ tướng quyết định bổ nhiệm ông làm Phó Trưởng Ban chỉ đạo đặc khu kinh tế Việt Nam. Đến tháng 10 năm 2018, tại Hội nghị Trung ương khoá XII, ông được phân làm Trưởng Tiểu ban điều lệ Đảng. Đến tháng 1 năm 2021, ông được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại phiên bầu cử Trung ương. Tại phiên họp của Trung ương Đảng khoá XIII, Phan Minh Chính được bầu làm Uỷ viên Bộ Chính trị ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.

Khi đảm nhiệm chức Trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng Việt Nam, Phạm Minh Chính còn phụ trách các chính sách lớn trong việc tổ chức lại các bộ, bố trí hệ thống chính trị, lãnh đạo chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ Đảng viên của Trung ương. Ông chỉ huy nhân sự, điều động, bổ nhiệm, điều chuyển các chức vụ cao cấp trong nội bộ Đảng khắp 63 tỉnh thành.

Phạm Minh Chính còn phụ trách nhiều vấn đề ngoại giao như đại diện Trung ương Đảng thăm các nước ngoài. Đón tiếp lãnh đạo nước ngoài đến thăm Việt Nam. Đầu năm 2018, ông đại diện đến Bắc Kinh thăm Trung Quốc, Gặp gỡ Uỷ viên Thường vụ Trung ương Lạc Tế, hội đàm với Thành uỷ Bắc Kinh các vấn đề về mối giao hảo giữa hai nước. Năm 2017 Ông đã hai lần đón tiếp Thủ tướng Nhật Bản là Abe shinzo trong nước và ngoài nước. Đến năm 2020 ông đón tiếp Suga Yoshihide đến thăm Việt Nam.

Pham Minh Chính và Shinzo Abe
Phạm Minh Chính gặp gỡ Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzo

Quá trình công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính

Từ 9/1977 - 9/1984: Học Đại học Ngoại ngữ Hà Nội; Đại học Xây dựng Bucarest - Rumani.

Từ 8/1982 - 9/1984: Được bầu làm Bí thư BCH Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn Rumani và Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam tại nước cộng hòa Romania.

Từ 9/1984 - 01/1985: Tốt nghiệp Đại học, chờ tiếp nhận công tác.

Từ 01/1985 - 08/1987: Cán bộ tình báo Phòng 6, Cục Tình báo thuộc Tổng cục An ninh, Bộ Công an

Từ 7/1985 – 9/1985: Đào tạo nghiệp vụ ngoại giao tại Đại học Ngoại giao (nay là Học viện Ngoại giao) – Bộ Ngoại giao.

Từ 9/1986 – 7/1987: Đào tạo nghiệp vụ tại Trường Tình báo (nay là Học viện Quốc tế) – Bộ Công an.

Từ 8/1987 – 01/1989: Cán bộ tình báo Cụm Tình báo phía Nam, Cục Tình báo thuộc Tổng cục An ninh, Bộ Công an.

Từ 01/1989 – 01/1990: Cán bộ tình báo Cục Tình báo phía Nam thuộc Tổng cục Tình báo, Bộ Công an.

Từ 01/1990 – 3/1991: Cán bộ tình báo, Cục  u Mỹ thuộc Tổng cục Tình báo, Bộ Công an.

Từ 3/1991 - 11/1994: Cán bộ Bộ Ngoại giao, Bí thư thứ 3, rồi Bí thư thứ 2 Đại sứ quán Việt Nam tại Rumani.

Từ 11/1994 - 5/1999: Cán bộ tình báo; Phó Trưởng phòng Cục Tình báo Châu  u thuộc Tổng cục Tình báo - Bộ Công an; Cán bộ Tổ thư ký lãnh đạo Bộ Công an, thuộc Văn phòng Bộ Công an.

Từ 8/1996 – 01/1997: Đào tạo nghiệp vụ tại Đại học An ninh (nay là Học viên An ninh) – Bộ Công an.

Từ 9/1999 – 9/2001: Đào tạo lý luận chính trị cao cấp tại trường Đảng cao cấp (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

Từ 5/1999 - 5/2006: Phó Cục trưởng; Quyền Cục trưởng rồi Cục trưởng Cục Tình báo kinh tế - khoa học công nghệ và môi trường, Tổng cục Tình báo, Bộ Công an

Từ 5/2006 - 12/2009: Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo phụ trách tình báo kinh tế - khoa học, công nghệ và môi trường, thuộc Bộ Công an.

Từ 12/2009 - 8/2010: Phó Tổng cục trưởng phụ trách rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an.

Từ 8/2010 - 8/2011: Uỷ viên Đảng ủy Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách lĩnh vực hậu cần - kỹ thuật, tài chính, khoa học, công nghệ, môi trường của Bộ Công an. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng được bầu vào BCH TƯ Đảng.

Từ 8/2011 - 02/2015: Ủy viên BCH Trung ương Đảng khóa XI, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh Quảng Ninh, Ủy viên Đảng ủy Quân khu 3 - Bộ Quốc phòng.

Từ 2/2015 - 01/2016: Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng được bầu vào BCH Trung ương Đảng và được BCH Trung ương Đảng khóa XII bầu là Ủy viên Bộ Chính trị.

Từ 02/2016 - 4/2021: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương khóa XII, Trưởng Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương khóa XII; phụ trách Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương và Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương; Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; Đại biểu Quốc hội khóa XIV; Chủ tịch Nhóm nghị sỹ hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản của Quốc hội khóa XIV.Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, được bầu tái cử BCH Trung ương Đảng và được BCH Trung ương Đảng bầu tái cử Bộ Chính trị khóa XIII.

Từ 05/4/202: Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, được bầu làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trên đây là tóm tắt tiểu sử Phạm Minh Chính tân thủ tướng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng tôi tổng hợp được. Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về tân Thủ tướng của nước ta

Tin tức khác